Trong thời gian qua, hệ thống chính sách về thuế, phí và lệ phí đã không ngừng được hoàn thiện, góp phần tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai vẫn còn một số nội dung cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện nhằm giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước về thuế.
Bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp ngay tình trong các giao dịch
Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp phát sinh các giao dịch mua bán có thật, có hợp đồng, chứng từ thanh toán hợp pháp và hóa đơn đầy đủ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, khi bên bán vi phạm nghĩa vụ thuế hoặc được xác định thuộc nhóm có rủi ro, doanh nghiệp mua cũng có thể bị ảnh hưởng trong việc ghi nhận chi phí hoặc khấu trừ thuế theo quy định tại Điều 16, Điều 17 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP.
Qua thực tiễn áp dụng cho thấy, đây là nội dung có thể tiếp tục được nghiên cứu theo hướng phân định rõ hơn trách nhiệm pháp lý của các bên trong giao dịch, đồng thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khi đã chứng minh được tính có thật của giao dịch và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán theo quy định.
Việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế này không chỉ góp phần bảo vệ doanh nghiệp thực hiện đúng quy định pháp luật mà còn tạo sự yên tâm trong hoạt động giao kết, ký kết hợp đồng và mở rộng quan hệ thương mại. Đồng thời, cơ chế phân định rõ trách nhiệm giữa các chủ thể trong giao dịch cũng sẽ giúp nâng cao tính minh bạch của môi trường kinh doanh, bảo đảm nguyên tắc quản lý rủi ro nhưng không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp tuân thủ tốt.
Tiếp tục giảm chi phí tuân thủ trong công tác kiểm tra thuế
Theo Luật Quản lý thuế năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành, hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được thực hiện trên cơ sở quản lý rủi ro. Tuy nhiên, trên thực tế, một số doanh nghiệp phản ánh vẫn phải nhiều lần cung cấp lại hồ sơ hoặc giải trình các thông tin đã gửi cho cơ quan thuế, mặc dù không có dấu hiệu vi phạm rõ ràng.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý rủi ro, giảm tần suất kiểm tra đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt và tăng cường khai thác dữ liệu điện tử đã có sẽ góp phần giảm chi phí tuân thủ, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Việc giảm các yêu cầu cung cấp lại thông tin đã có trong hệ thống cũng phù hợp với chủ trương đẩy mạnh xây dựng Chính phủ số, phát huy hiệu quả của cơ sở dữ liệu điện tử và tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Đây cũng là giải pháp góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí cho cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp.
Đơn giản hóa thủ tục đối với hộ kinh doanh có doanh thu dưới 1 tỷ đồng
Theo quy định tại Nghị định số 68/2026/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 141/2026/NĐ-CP), từ ngày 01/01/2026, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 1 tỷ đồng/năm trở xuống thuộc diện không phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, vẫn có trường hợp hộ kinh doanh phải cung cấp nhiều hồ sơ, chứng từ hoặc giải trình tương đối chi tiết. Với đặc điểm quy mô nhỏ, không có bộ máy kế toán chuyên nghiệp, việc tiếp tục nghiên cứu đơn giản hóa thành phần hồ sơ, chỉ yêu cầu bổ sung thông tin khi có dấu hiệu rủi ro rõ ràng sẽ góp phần bảo đảm mục tiêu hỗ trợ của chính sách.
Việc đơn giản hóa hồ sơ không đồng nghĩa với việc nới lỏng công tác quản lý mà hướng đến áp dụng phương thức quản lý phù hợp với quy mô và mức độ rủi ro của từng nhóm đối tượng. Cách tiếp cận này vừa tạo thuận lợi cho hộ kinh doanh, vừa giúp cơ quan quản lý tập trung nguồn lực vào các trường hợp có dấu hiệu rủi ro cao.
Tiếp tục tạo thuận lợi trong triển khai hóa đơn điện tử từ máy tính tiền
Việc triển khai hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền theo quy định của Nghị định số 123/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 70/2025/NĐ-CP) là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh.
Trong quá trình triển khai, một số doanh nghiệp cho biết việc hoàn tất các thủ tục xác minh hồ sơ và địa điểm kinh doanh còn mất thời gian. Do đó, có thể tiếp tục nghiên cứu các giải pháp rút ngắn thời gian xử lý đối với hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, đồng thời tăng cường hậu kiểm trên cơ sở dữ liệu điện tử, phù hợp với định hướng chuyển đổi số trong quản lý thuế.
Đây cũng là định hướng phù hợp với chủ trương cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ số trong quản lý thuế, góp phần giúp doanh nghiệp sớm đưa hoạt động kinh doanh vào vận hành, đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý thông qua cơ chế hậu kiểm và khai thác dữ liệu điện tử.
Phát huy hiệu quả khai thác dữ liệu số trong quản lý thuế
Hiện nay, hệ thống thuế điện tử đã lưu trữ khối lượng lớn dữ liệu từ hóa đơn điện tử, tờ khai thuế và báo cáo tài chính. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, doanh nghiệp vẫn được yêu cầu cung cấp lại các thông tin đã có trong hệ thống.
Việc tiếp tục hoàn thiện phương thức khai thác dữ liệu theo hướng cơ quan thuế chủ động sử dụng thông tin đã được số hóa, chỉ yêu cầu doanh nghiệp bổ sung khi thực sự cần thiết sẽ góp phần giảm thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả quản lý.
Nghiên cứu phát triển nền tảng phần mềm dùng chung hỗ trợ doanh nghiệp và hộ kinh doanh
Hiện nay, Việt Nam có khoảng hơn 900.000 doanh nghiệp đang hoạt động và trên 5 triệu hộ kinh doanh. Phần lớn là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh, với khả năng đầu tư cho công nghệ còn hạn chế.
Trong bối cảnh việc sử dụng hóa đơn điện tử và phần mềm kế toán ngày càng phổ biến, có thể nghiên cứu xây dựng nền tảng phần mềm hóa đơn điện tử và kế toán dùng chung trên phạm vi toàn quốc để hỗ trợ doanh nghiệp và hộ kinh doanh. Nếu được triển khai phù hợp, giải pháp này không chỉ góp phần giảm chi phí tuân thủ mà còn hỗ trợ chuẩn hóa dữ liệu, tạo thuận lợi cho công tác quản lý thuế trên môi trường số.