Đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều phát triển công nghiệp hỗ trợ

30/09/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In trang Google

Bộ Tư pháp đang thẩm định dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định về phát triển công nghiệp hỗ trợ, trong đó đề xuất sửa đổi khái niệm, nguyên tắc xác định sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển và ban hành danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển kèm theo Nghị định.

Theo dự thảo, Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 205/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ, gồm 03 Điều và Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển ban hành kèm theo.

Cụ thể, dự thảo gồm:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 205/2025/NĐ-CP;

Điều 2. Xử lý chuyển tiếp;

Điều 3. Điều khoản thi hành.

Sửa đổi khái niệm sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển

Một nội dung đáng chú ý của dự thảo là sửa đổi khái niệm về Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển, đồng thời bổ sung nguyên tắc xác định các sản phẩm thuộc danh mục này.

Theo dự thảo, Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển là danh mục chi tiết các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được sản xuất trên lãnh thổ Việt Nam nhằm tăng tính tự chủ, nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng, phục vụ sản xuất ngành, lĩnh vực công nghiệp chiến lược, nền tảng, mũi nhọn, trọng điểm, ưu tiên theo từng thời kỳ.

Việc xác định các sản phẩm thuộc danh mục được thực hiện theo các nguyên tắc được quy định tại Điều 3a của Nghị định.

Cụ thể, dự thảo sửa đổi khoản 3 Điều 3 như sau:

“3. Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển là danh mục chi tiết các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được sản xuất trên lãnh thổ Việt Nam nhằm tăng tính tự chủ, nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng, phục vụ sản xuất ngành, lĩnh vực công nghiệp chiến lược, nền tảng, mũi nhọn, trọng điểm, ưu tiên theo từng thời kỳ được xác định theo nguyên tắc quy định tại Điều 3a Nghị định này.”

Như vậy, so với cách tiếp cận trước đây, dự thảo nhấn mạnh hơn đến mục tiêu tăng tính tự chủ trong sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng được tạo ra trong nước và phục vụ các ngành, lĩnh vực công nghiệp có vai trò quan trọng theo từng thời kỳ.

Việc xác định sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển không chỉ dựa trên việc sản phẩm đó thuộc nhóm nguyên liệu, phụ liệu, vật liệu, linh kiện hay phụ tùng, mà còn gắn với yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp chiến lược, nền tảng, mũi nhọn, trọng điểm và ưu tiên.

Bổ sung nguyên tắc xác định sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển

Dự thảo bổ sung Điều 3a với tên gọi “Nguyên tắc xác định sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển”.

Theo đó, việc xác định sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển phải tuân thủ các nguyên tắc được đề xuất tại dự thảo.

Thứ nhất, sản phẩm phải là nguyên liệu, phụ liệu, vật liệu, linh kiện, phụ tùng cung cấp cho sản xuất, gia công, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh thuộc các ngành, lĩnh vực công nghiệp chiến lược, nền tảng, mũi nhọn, trọng điểm, ưu tiên quy định tại Danh mục ban hành kèm theo Nghị định.

Quy định này hướng đến việc xác định rõ mối liên hệ giữa sản phẩm công nghiệp hỗ trợ và các sản phẩm hoàn chỉnh thuộc những ngành, lĩnh vực được ưu tiên. Theo đó, các nguyên liệu, phụ liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng không được xem xét một cách riêng lẻ mà đặt trong mối quan hệ với hoạt động sản xuất, gia công, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh.

Thứ hai, sản phẩm được xác định trong danh mục phải có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao, nâng cao năng suất, đón đầu xu hướng phát triển mới về công nghệ, thị trường và chuyển dịch chuỗi cung ứng.

Dự thảo đồng thời đặt ra yêu cầu sản phẩm phải góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và hàm lượng giá trị gia tăng tạo ra trong nước, tăng mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam.

Đây là một trong những nội dung thể hiện rõ định hướng gắn phát triển công nghiệp hỗ trợ với năng lực sản xuất trong nước. Việc nâng cao tỷ lệ nội địa hóa không chỉ liên quan đến khả năng cung ứng nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng cho doanh nghiệp sản xuất mà còn gắn với khả năng tạo ra giá trị ngay tại Việt Nam.

Thứ ba, sản phẩm phải góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghiệp quốc gia, công nghiệp quốc phòng.

Theo dự thảo, đây cũng là một nguyên tắc để xem xét, xác định sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển.

Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển

Dự thảo quy định Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định.

Đồng thời, Bộ trưởng Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ, ngành và hiệp hội doanh nghiệp liên quan quy định chi tiết mô tả sản phẩm, mã số hàng hóa và tiêu chí kỹ thuật của các sản phẩm thuộc Danh mục ban hành kèm theo Nghị định.

Quy định này nhằm làm rõ hơn cách nhận diện từng sản phẩm thuộc Danh mục, thông qua mô tả sản phẩm, mã số hàng hóa và các tiêu chí kỹ thuật.

Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển được rà soát định kỳ 03 năm một lần.

Ngoài việc rà soát định kỳ, Danh mục còn được rà soát và trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung đột xuất khi có thay đổi về chủ trương, định hướng phát triển kinh tế - xã hội hoặc có biến động lớn về công nghệ, chuỗi cung ứng.

Việc rà soát phải được thực hiện trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 3a.

Định hướng nâng cao tính chủ động của công nghiệp hỗ trợ

Qua các nội dung được đề xuất, có thể thấy dự thảo đang tiếp cận việc phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hướng gắn chặt hơn với yêu cầu nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Khái niệm về sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển được đặt trong mối quan hệ với mục tiêu tăng tính tự chủ, nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng và phục vụ các ngành, lĩnh vực công nghiệp quan trọng.

Điểm đáng chú ý là dự thảo không chỉ đề cập đến sản phẩm công nghiệp hỗ trợ dưới góc độ đầu vào của quá trình sản xuất. Các sản phẩm được xem xét còn phải đáp ứng những yêu cầu liên quan đến năng suất, công nghệ, thị trường, chuỗi cung ứng, tỷ lệ nội địa hóa và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam.

Cách tiếp cận này có ý nghĩa đối với việc xác định đúng nhóm sản phẩm cần được ưu tiên trong từng giai đoạn. Trong bối cảnh công nghệ và chuỗi cung ứng có thể thay đổi, một danh mục cố định trong thời gian dài có thể không phản ánh đầy đủ nhu cầu của hoạt động sản xuất. Việc dự kiến rà soát định kỳ 03 năm một lần vì vậy tạo cơ chế để Danh mục được xem xét, cập nhật theo định hướng phát triển thực tế.

Đồng thời, việc cho phép rà soát, trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung đột xuất khi có những thay đổi về chủ trương, định hướng phát triển kinh tế - xã hội hoặc biến động lớn về công nghệ, chuỗi cung ứng cũng tạo khả năng phản ứng linh hoạt hơn trước những thay đổi của môi trường sản xuất.

Đối với doanh nghiệp, việc xác định rõ Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển có ý nghĩa quan trọng trong quá trình theo dõi chính sách và định hướng đầu tư, sản xuất. Doanh nghiệp có thể xác định rõ hơn nhóm sản phẩm, nguyên liệu, vật liệu, linh kiện, phụ tùng có liên quan đến các ngành, lĩnh vực được ưu tiên theo từng thời kỳ.

Việc dự thảo giao Bộ trưởng Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ, ngành và hiệp hội doanh nghiệp liên quan quy định chi tiết mô tả sản phẩm, mã số hàng hóa và tiêu chí kỹ thuật cũng cho thấy yêu cầu phải có sự phối hợp giữa nhiều cơ quan và chủ thể trong quá trình xác định sản phẩm.

Trong thực tế, việc nhận diện một sản phẩm công nghiệp hỗ trợ không chỉ phụ thuộc vào tên gọi mà còn liên quan đến đặc điểm, công dụng, mã số hàng hóa và tiêu chí kỹ thuật. Vì vậy, các nội dung hướng dẫn chi tiết sẽ có vai trò quan trọng trong việc tạo cách hiểu thống nhất khi áp dụng Danh mục.

Đối với doanh nghiệp, việc mô tả sản phẩm và xác định mã số hàng hóa rõ ràng cũng giúp giảm khả năng phát sinh cách hiểu khác nhau trong quá trình thực hiện. Đây là vấn đề đặc biệt đáng lưu ý đối với các doanh nghiệp sản xuất, gia công, lắp ráp có hoạt động liên quan đến nhiều loại nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng và sản phẩm đầu vào.

Một nội dung khác cần được quan tâm là tiêu chí về khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao. Việc đặt tiêu chí này cùng với yêu cầu nâng cao năng suất, đón đầu xu hướng công nghệ, thị trường và chuyển dịch chuỗi cung ứng cho thấy định hướng không chỉ mở rộng số lượng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ mà còn chú trọng chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

Đối với doanh nghiệp Việt Nam, việc nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng tạo ra trong nước có thể được nhìn nhận cùng với mục tiêu tăng mức độ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Khi doanh nghiệp trong nước có khả năng cung cấp nhiều hơn các nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng có chất lượng, năng lực tham gia vào chuỗi sản xuất cũng được đặt trên nền tảng chủ động hơn.

Dự thảo cũng đề cập đến yêu cầu góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghiệp quốc gia, công nghiệp quốc phòng. Đây là nguyên tắc được đặt song song với các yêu cầu về giá trị gia tăng, công nghệ, thị trường và chuỗi cung ứng. Qua đó, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển được xem xét trong mối liên hệ với yêu cầu phát triển năng lực sản xuất và mức độ tự chủ của công nghiệp.

Nhìn tổng thể, các đề xuất tại dự thảo hướng đến việc xây dựng Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển có tính định hướng rõ hơn và có khả năng cập nhật theo những thay đổi của nền kinh tế, công nghệ và chuỗi cung ứng. Việc kết hợp giữa Danh mục cụ thể và các nguyên tắc xác định sản phẩm là cơ sở để làm rõ hơn phạm vi sản phẩm được ưu tiên.

Đối với cộng đồng doanh nghiệp, việc theo dõi Danh mục và các quy định chi tiết về mô tả sản phẩm, mã số hàng hóa, tiêu chí kỹ thuật sẽ là nội dung cần thiết khi dự thảo được ban hành và triển khai. Đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp chủ động rà soát hoạt động sản xuất, định hướng sản phẩm và khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng.

Việc sửa đổi, bổ sung quy định về phát triển công nghiệp hỗ trợ vì vậy không chỉ liên quan đến việc cập nhật một danh mục sản phẩm, mà còn đặt ra yêu cầu xác định rõ hơn những sản phẩm có vai trò đối với năng lực sản xuất trong nước, khả năng tạo giá trị gia tăng và mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.

H.Huyền

Xem thêm »