Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) sử dụng ngân sách hỗ trợ tối đa 50% chi phí xây dựng, nâng cấp hạ tầng nghiên cứu và các dự án thuộc lĩnh vực công nghệ chiến lược, với mức hỗ trợ tối đa 25 tỷ đồng cho mỗi tổ chức, doanh nghiệp.
Chính sách này được các đại biểu HĐND TP HCM thông qua tại kỳ họp chuyên đề sáng 22/9, với nghị quyết về cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển hạ tầng, hệ thống đổi mới sáng tạo, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Việc ban hành cơ chế mới được kỳ vọng góp phần giải quyết khoảng trống đã tồn tại trong chính sách hỗ trợ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thời gian qua. Thay vì chủ yếu hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, thương mại hóa, tư vấn, đào tạo hoặc hỗ trợ tài chính, thành phố sẽ trực tiếp hỗ trợ một phần chi phí đầu tư xây dựng, nâng cấp hạ tầng phục vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Theo chính sách được thông qua, đối với hạ tầng thuộc Danh mục công nghệ chiến lược do Chính phủ ban hành, mức hỗ trợ tối đa là 25 tỷ đồng cho mỗi tổ chức, doanh nghiệp và không vượt quá 50% tổng kinh phí thực hiện dự án. Đây là nhóm chính sách hướng đến những lĩnh vực có yêu cầu lớn về nguồn lực đầu tư ban đầu, chẳng hạn hạ tầng phục vụ nghiên cứu, thiết kế và thử nghiệm công nghệ trong các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI).
Đối với hạ tầng vật lý thuộc các lĩnh vực khác, mức hỗ trợ tối đa là 5 tỷ đồng. Hạ tầng số được hỗ trợ tối đa 3 tỷ đồng. Các mức hỗ trợ đều được giới hạn không quá 50% tổng vốn của dự án, phần kinh phí còn lại do tổ chức, doanh nghiệp thực hiện tự bảo đảm.
Cơ chế hỗ trợ được áp dụng đối với nhiều loại hạ tầng khác nhau, từ xưởng sản xuất thử nghiệm, phòng đo kiểm vi mạch, máy chủ phục vụ nghiên cứu đến phòng thí nghiệm y sinh, vật liệu mới, trung tâm dữ liệu nghiên cứu hoặc hạ tầng kiểm chuẩn, đo lường.
Việc đưa trực tiếp chi phí đầu tư hạ tầng vào nhóm được hỗ trợ tạo ra sự khác biệt đáng kể so với cách tiếp cận của một số chính sách trước đây. Đối với hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, chi phí đầu tư ban đầu thường rất lớn, đặc biệt khi dự án cần phòng thí nghiệm, thiết bị chuyên dụng, hệ thống máy chủ, thiết bị đo kiểm hoặc các hạ tầng kỹ thuật có yêu cầu cao.
Trong khi đó, các doanh nghiệp công nghệ, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp hoặc các tổ chức đang phát triển sản phẩm công nghệ mới thường gặp khó khăn về khả năng huy động nguồn vốn ban đầu. Nếu chỉ tập trung hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, đào tạo hay thương mại hóa mà chưa có cơ chế chia sẻ một phần chi phí hạ tầng, khả năng triển khai các dự án công nghệ có yêu cầu đầu tư lớn vẫn có thể bị hạn chế.
Cơ chế mới của TP HCM vì vậy hướng đến việc giảm một phần áp lực về vốn đầu tư ban đầu, đồng thời vẫn duy trì nguyên tắc doanh nghiệp, tổ chức phải tự bảo đảm phần kinh phí còn lại. Việc giới hạn mức hỗ trợ không quá 50% tổng vốn dự án cũng đặt ra yêu cầu đơn vị thụ hưởng phải có năng lực tài chính và cam kết nguồn lực đối ứng.
Chính sách này có điểm khác với Nghị quyết 20/2023, vốn hỗ trợ tối đa 400 triệu đồng cho dự án khởi nghiệp sáng tạo ở giai đoạn tăng tốc. Theo tờ trình, hai chính sách có bản chất khác nhau, trong đó chính sách mới có quy mô hỗ trợ lớn hơn do tập trung vào nguồn vốn đầu tư ban đầu cho hạ tầng.
Một chính sách hiện hành khác là Nghị quyết 23/2026 về dự án khởi nghiệp sáng tạo trong công nghiệp công nghệ số. Nghị quyết này hỗ trợ 50% đối với một số khoản chi như đào tạo, thu hút nhân lực, nghiên cứu và phát triển (R&D), sản xuất thử nghiệm, với mức tối đa từ 50 triệu đến 400 triệu đồng tùy từng nội dung.
Như vậy, các chính sách được thiết kế theo những hướng hỗ trợ khác nhau. Trong khi một số cơ chế tập trung vào quá trình hình thành, phát triển dự án, đào tạo nhân lực hoặc nghiên cứu, chính sách mới dành sự quan tâm lớn hơn đến nền tảng vật chất và hạ tầng kỹ thuật để các hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển công nghệ có điều kiện triển khai.
Hỗ trợ hạ tầng cho các trung tâm đổi mới sáng tạo
Bên cạnh chính sách dành cho tổ chức, doanh nghiệp, nghị quyết của HĐND TP HCM còn có chương riêng về Trung tâm đổi mới sáng tạo và Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo.
Theo đó, có 6 nhóm nội dung được hỗ trợ. Hạ tầng và trang thiết bị được hỗ trợ tối đa 100 tỷ đồng; vận hành kỹ thuật và thiết bị ban đầu tối đa 10 tỷ đồng; đào tạo nhân lực tối đa 10 tỷ đồng; tư vấn và xác lập, đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ tối đa 10 tỷ đồng; thương mại hóa sản phẩm R&D tối đa 5 tỷ đồng; hợp tác quốc tế tối đa 10 tỷ đồng.
Nếu một trung tâm được phê duyệt đầy đủ cả 6 nhóm nội dung ở mức trần, tổng mức hỗ trợ có thể lên tới 145 tỷ đồng.
Mức hỗ trợ được phân theo định hướng phát triển của từng trung tâm. Đối với trung tâm hướng tới tầm cỡ quốc tế, mức hỗ trợ tối đa là 100%; trung tâm cấp tỉnh hướng đến cấp quốc gia được hỗ trợ tối đa 70%; trung tâm hướng đến được công nhận cấp tỉnh được hỗ trợ tối đa 50%.
Cách phân nhóm này cho thấy chính sách không chỉ hướng đến việc hỗ trợ một khoản kinh phí chung cho các trung tâm mà còn gắn mức hỗ trợ với mục tiêu phát triển và quy mô hoạt động. Việc xác định tỷ lệ hỗ trợ khác nhau giữa các cấp độ cũng tạo ra cơ sở để phân bổ nguồn lực theo định hướng phát triển của từng trung tâm.
Đối với các trung tâm đổi mới sáng tạo, hạ tầng và trang thiết bị thường là khoản đầu tư có giá trị lớn, trong khi hiệu quả của hoạt động có thể cần thời gian để hình thành. Việc hỗ trợ đầu tư ban đầu có thể tạo điều kiện để các trung tâm xây dựng năng lực nghiên cứu, thử nghiệm, kết nối chuyên gia, phát triển sản phẩm và hỗ trợ doanh nghiệp.
Tuy nhiên, mức hỗ trợ cao cũng đặt ra yêu cầu tương ứng về hiệu quả sử dụng nguồn lực. Khi ngân sách nhà nước tham gia với tỷ lệ lớn, việc xác định rõ mục tiêu, tiến độ, nội dung đầu tư và kết quả đầu ra sẽ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thực hiện.
Kiểm soát giải ngân, hạn chế rủi ro
Để kiểm soát rủi ro trong quá trình thực hiện, thành phố yêu cầu giải ngân kinh phí theo tiến độ. Trước mỗi đợt nhận kinh phí, tổ chức, doanh nghiệp phải có bảo lãnh ngân hàng tương ứng với số tiền được cấp.
Quy định này tạo ra cơ chế kiểm soát ngay từ quá trình giải ngân thay vì chỉ kiểm tra sau khi dự án đã hoàn thành. Việc gắn nguồn kinh phí với tiến độ thực hiện cũng đặt trách nhiệm lớn hơn lên tổ chức, doanh nghiệp nhận hỗ trợ trong việc sử dụng nguồn lực đúng mục đích và bảo đảm tiến độ.
Trường hợp nhiệm vụ dừng hoặc không thành công do lỗi chủ quan, kinh phí có thể được thu hồi theo quy định. Đây là cơ chế cần thiết trong bối cảnh chính sách dành nguồn lực ngân sách tương đối lớn cho các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, vốn thường tiềm ẩn rủi ro trong quá trình nghiên cứu và phát triển.
Đối với hoạt động công nghệ, không phải mọi dự án nghiên cứu đều có thể bảo đảm kết quả như dự kiến. Vì vậy, việc phân biệt rủi ro khách quan trong quá trình nghiên cứu với trường hợp không thực hiện hoặc không thành công do nguyên nhân chủ quan là vấn đề có ý nghĩa trong tổ chức thực hiện chính sách. Cơ chế thu hồi kinh phí đối với trường hợp có lỗi chủ quan đồng thời tạo yêu cầu về trách nhiệm giải trình đối với đơn vị được hỗ trợ.
Quy mô nguồn lực lớn, kỳ vọng tạo động lực cho hệ sinh thái công nghệ
Trong giai đoạn 2026-2030, cơ quan soạn thảo xây dựng kịch bản tham chiếu khoảng 1.405 tỷ đồng cho toàn bộ chính sách. Con số này gồm 825 tỷ đồng dành cho hỗ trợ hạ tầng và tối đa về lý thuyết 580 tỷ đồng cho 4 trung tâm.
Quy mô nguồn lực này cho thấy TP HCM đang dành sự quan tâm đáng kể cho việc hình thành và phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hạ tầng được xem là một trong những điều kiện nền tảng để hình thành năng lực nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển sản phẩm công nghệ.
Đặc biệt, với những lĩnh vực có chi phí đầu tư ban đầu cao như bán dẫn, AI, công nghệ sinh học, vật liệu mới hay các hệ thống dữ liệu phục vụ nghiên cứu, khả năng tiếp cận hạ tầng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng triển khai dự án của doanh nghiệp.
Khi một phần chi phí đầu tư được ngân sách hỗ trợ, doanh nghiệp có thêm điều kiện dành nguồn lực cho các hoạt động khác như nghiên cứu, phát triển sản phẩm, tuyển dụng nhân lực, thử nghiệm và đưa sản phẩm ra thị trường. Tuy nhiên, chính sách chỉ có thể phát huy hiệu quả khi nguồn hỗ trợ được phân bổ đúng đối tượng, đúng nhu cầu và gắn với các dự án có khả năng tạo ra giá trị thực tế.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, vấn đề này càng đáng lưu ý. Không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nguồn lực để tự xây dựng phòng thí nghiệm, hệ thống máy chủ, khu vực sản xuất thử nghiệm hoặc thiết bị đo kiểm chuyên dụng. Chi phí đầu tư lớn có thể trở thành rào cản ngay cả khi doanh nghiệp có ý tưởng, công nghệ hoặc thị trường tiềm năng.
Việc hỗ trợ hạ tầng vì vậy có thể tạo ra một bước đệm để doanh nghiệp tiếp cận những điều kiện kỹ thuật mà trước đây vượt quá khả năng đầu tư của mình. Nếu được triển khai hiệu quả, chính sách không chỉ hỗ trợ từng dự án riêng lẻ mà còn có thể tạo thêm năng lực dùng chung cho hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của thành phố.
Từ góc độ doanh nghiệp, điều quan trọng không chỉ nằm ở mức hỗ trợ tối đa 25 tỷ đồng mà còn ở khả năng tiếp cận chính sách một cách minh bạch, rõ ràng và thuận lợi. Doanh nghiệp cần biết chính xác dự án nào thuộc diện được hỗ trợ, tiêu chí xác định hạ tầng công nghệ chiến lược, điều kiện về vốn đối ứng, hồ sơ, trình tự, tiến độ giải ngân và trách nhiệm khi sử dụng nguồn kinh phí.
Đây cũng là yếu tố quyết định khả năng biến chính sách trên giấy thành nguồn lực thực tế cho doanh nghiệp. Một chính sách có mức hỗ trợ lớn nhưng thủ tục phức tạp hoặc tiêu chí khó tiếp cận sẽ khó tạo ra tác động tương xứng. Ngược lại, nếu quy trình được thiết kế rõ ràng, thời gian xử lý hợp lý và trách nhiệm của từng cơ quan được xác định cụ thể, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc xây dựng kế hoạch đầu tư.
Từ hỗ trợ đầu tư đến nâng cao năng lực công nghệ
Một điểm đáng chú ý của chính sách là sự chuyển dịch từ hỗ trợ đơn thuần cho hoạt động sang hỗ trợ một phần năng lực nền tảng. Khi doanh nghiệp có hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất phù hợp, khả năng triển khai các hoạt động R&D và thương mại hóa sản phẩm cũng có điều kiện được cải thiện.
Tuy vậy, hạ tầng chỉ là một trong những yếu tố cấu thành năng lực công nghệ. Sau khi được đầu tư, doanh nghiệp vẫn cần có đội ngũ nhân lực, năng lực quản trị, khả năng nghiên cứu, phát triển sản phẩm và tìm kiếm thị trường. Vì vậy, việc kết hợp chính sách hỗ trợ hạ tầng với các chính sách về đào tạo, thu hút nhân lực, R&D, sở hữu trí tuệ và thương mại hóa sẽ có ý nghĩa quan trọng.
Đối với các trung tâm đổi mới sáng tạo, 6 nhóm nội dung được hỗ trợ trong nghị quyết cũng thể hiện cách tiếp cận tương đối toàn diện, từ hạ tầng và thiết bị, vận hành, đào tạo nhân lực đến sở hữu trí tuệ, thương mại hóa và hợp tác quốc tế. Nếu các nhóm hỗ trợ này được triển khai đồng bộ, trung tâm có thể từng bước hình thành hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp thay vì chỉ dừng ở việc cung cấp không gian hoặc thiết bị.
Về phía doanh nghiệp, việc ngân sách hỗ trợ tối đa 50% tổng vốn dự án cũng có thể tạo động lực để doanh nghiệp chủ động tham gia đầu tư. Nhà nước hỗ trợ một phần, còn doanh nghiệp phải bảo đảm phần vốn còn lại, qua đó hạn chế tâm lý phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn lực công.
Trong dài hạn, hiệu quả của chính sách cần được đánh giá không chỉ bằng số tiền đã giải ngân mà còn bằng khả năng hình thành hạ tầng mới, số lượng dự án được triển khai, năng lực nghiên cứu và thử nghiệm được nâng lên, sản phẩm công nghệ được phát triển và thương mại hóa, cũng như khả năng hình thành các doanh nghiệp công nghệ có năng lực cạnh tranh.
Đặc biệt, với các lĩnh vực công nghệ chiến lược, đầu tư hạ tầng thường có tính chất dài hạn. Do đó, hiệu quả chính sách không nhất thiết chỉ thể hiện ngay trong thời gian ngắn mà cần được nhìn nhận qua khả năng tạo nền tảng cho các hoạt động nghiên cứu, phát triển và sản xuất trong những năm tiếp theo.
Chính sách hỗ trợ mới của TP HCM vì vậy có thể được xem là một bước mở rộng cách thức sử dụng nguồn lực công cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Từ việc hỗ trợ một phần chi phí hoạt động, thành phố tăng cường chia sẻ chi phí đầu tư cho những hạ tầng có tính nền tảng, đặc biệt là các lĩnh vực công nghệ có yêu cầu vốn lớn.
Nếu được thực hiện đúng đối tượng, kiểm soát chặt chẽ và gắn với hiệu quả đầu ra, nguồn hỗ trợ này có thể giúp giảm một phần rào cản đầu tư ban đầu, tạo điều kiện để doanh nghiệp công nghệ nâng cao năng lực nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển sản phẩm. Đồng thời, việc hình thành thêm các trung tâm đổi mới sáng tạo với hệ thống hạ tầng, nhân lực và dịch vụ hỗ trợ tương ứng cũng có thể tạo thêm không gian kết nối giữa doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu và các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Chính sách sẽ có hiệu lực từ ngày 1/10.
T.Long