Quy định mới về xử phạt hành vi trốn thuế

03/09/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In trang Google

Quy định về xử phạt hành vi trốn thuế được nêu tại Văn bản hợp nhất số 27/2026/VBHN-NĐ-BTC về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.

Cụ thể, Điều 17 Văn bản hợp nhất số 27/2026/VBHN-NĐ-BTC quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Trong đó, hành vi trốn thuế sẽ bị xử phạt theo các mức quy định khác nhau.
Các hành vi trốn thuế
Người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây và có từ một tình tiết giảm nhẹ trở lên thì bị phạt tiền 1 lần số thuế trốn:
a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc kể từ ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, trừ trường hợp quy định tại điểm b, c khoản 4 và khoản 5 Điều 13 Nghị định này;
b) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp, không khai, khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm thuế, trừ hành vi quy định tại Điều 16 Nghị định này;
c) Không lập hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp người nộp thuế đã khai thuế đối với giá trị hàng hóa, dịch vụ đã bán, đã cung ứng vào kỳ tính thuế tương ứng; lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ sai về số lượng, giá trị hàng hóa, dịch vụ để khai thuế thấp hơn thực tế và bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế;
d) Sử dụng hoá đơn không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp hoá đơn để khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm;
đ) Sử dụng chứng từ không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp chứng từ; sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, giảm, số tiền thuế được hoàn; lập thủ tục, hồ sơ huỷ vật tư, hàng hoá không đúng thực tế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, được miễn, giảm;
e) Sử dụng hàng hoá thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng, khai thuế với cơ quan thuế;
g) Người nộp thuế có hoạt động kinh doanh trong thời gian xin ngừng, tạm ngừng hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan thuế, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều 10 Nghị định này.
Các mức xử phạt đối với hành vi trốn thuế
Mức phạt tiền đối với hành vi trốn thuế được xác định trên cơ sở số tiền thuế trốn và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của người nộp thuế. Cụ thể
Phạt tiền 1,5 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này mà không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
Phạt tiền 2 lần số thuể trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này mà có một tình tiết tăng nặng.
Phạt tiền 2,5 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này có hai tình tiết tăng nặng.
Phạt tiền 3 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này có từ ba tình tiết tăng nặng trở lên.
Như vậy, mức phạt tiền đối với hành vi trốn thuế được xác định từ 1 lần đến 3 lần số tiền thuế trốn, tùy thuộc vào tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng của từng trường hợp. Việc xác định mức phạt cụ thể được thực hiện trên cơ sở hành vi vi phạm và các tình tiết có liên quan theo quy định.
Biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi trốn thuế
Ngoài hình thức xử phạt tiền, người nộp thuế thực hiện hành vi trốn thuế còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 6 Điều 17 Văn bản hợp nhất số 27/2026/VBHN-NĐ-BTC.
Cụ thể, đối với các hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 17, người nộp thuế bị buộc nộp đủ số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước.
Trường hợp hành vi trốn thuế theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này đã quá thời hiệu xử phạt thì người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế nhưng người nộp thuế phải nộp đủ số tiền thuế trốn, tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước theo thời hạn quy định tại khoản 6 Điều 8 Nghị định này.
Bên cạnh đó, người nộp thuế còn bị buộc điều chinh lại số lỗ, số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ trên hồ sơ thuế (nếu có) đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 17.
Các biện pháp khắc phục hậu quả này được áp dụng nhằm bảo đảm số tiền thuế trốn được nộp đầy đủ vào ngân sách nhà nước, đồng thời điều chỉnh các nội dung liên quan trên hồ sơ thuế trong trường hợp có phát sinh số lỗ hoặc số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ.
Trường hợp hành vi vi phạm không làm giảm số thuế phải nộp
Khoản 7 Điều 17 Văn bản hợp nhất số 27/2026/VBHN-NĐ-BTC cũng quy định đối với một số trường hợp hành vi vi phạm được phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế nhưng không làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc chưa được hoàn thuế, không làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm.
Theo đó, các hành vi vi phạm quy định tại điểm b, đ, e khoản 1 Điều 17 nếu được phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế nhưng không làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc chưa được hoàn thuế, không làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định này.
Như vậy, việc xử phạt đối với hành vi trốn thuế được xác định căn cứ vào hành vi cụ thể, số tiền thuế trốn cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong từng trường hợp. Ngoài mức phạt tiền được xác định theo số lần số thuế trốn, người nộp thuế còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định, trong đó có việc nộp đủ số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước và điều chỉnh lại số lỗ, số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ trên hồ sơ thuế nếu có.
Quy định này là cơ sở để xác định mức xử phạt đối với các hành vi trốn thuế và các nghĩa vụ mà người nộp thuế phải thực hiện khi có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật về thuế, hóa đơn./.
V.Linh

Xem thêm »