Đề xuất quy định mới về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

05/09/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In trang Google

Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 320/2025/NĐ-CP (ngày 15/12/2025) hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 141/2026/NĐ-CP).

Theo Bộ Tài chính, việc ban hành Nghị định này nhằm hoàn thiện quy định về ưu đãi thuế TNDN cho đồng bộ với các luật mới được Quốc hội thông qua. Đồng thời, chính sách mới hướng tới tháo gỡ vướng mắc cho người dân, doanh nghiệp tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, qua đó tạo lực đẩy đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng "hai con số".
Sửa đổi, bổ sung điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt
Tại dự thảo, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt. Bộ Tài chính cho biết, để tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp tại các địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn và góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP theo hướng không bắt buộc áp dụng chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khi doanh nghiệp trả lương cho người lao động hoặc thanh toán tiền cho cá nhân, hộ gia đình cư trú tại địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn (theo quy định của pháp luật về đầu tư) trong 03 trường hợp:
(i) Lập bảng kê khi mua hàng hóa, dịch vụ của người dân (bao gồm hộ gia đình, cá nhân kinh doanh dưới ngưỡng chịu thuế): Khi mua hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, hộ gia đình này, doanh nghiệp sẽ lập bảng kê thay cho hóa đơn đầu vào. Trường hợp giao dịch có giá trị thanh toán từng lần từ 05 triệu đồng trở lên mà cá nhân, hộ gia đình cư trú tại địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn thì doanh nghiệp vẫn được tính vào chi phí được trừ mà không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. (Bên cạnh đó, dự thảo cũng chỉnh sửa kỹ thuật trình bày tại điểm b khoản 1 để bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch nhưng giữ nguyên nội dung gốc).
(ii) Thanh toán tiền lương, tiền công, tiền thưởng, phụ cấp, trợ cấp và các khoản chi khác cho người lao động.
(iii) Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô thanh toán tiền lãi cho cá nhân.
Việc xác định địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn được thực hiện theo khoản 2 và khoản 3 Điều 22 Nghị định số 96/2026/NĐ-CP (ngày 31/3/2026) hướng dẫn Luật Đầu tư, bao gồm các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn biển đảo và biên giới. Việc sửa đổi, bổ sung này hoàn toàn phù hợp với thẩm quyền của Chính phủ quy định tại điểm c khoản 1 và khoản 3 Điều 9 Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15 (nội dung chi tiết tại Điều 1 dự thảo Nghị định).
Sửa đổi quy định về ưu đãi thuế
Về việc sửa đổi quy định về ưu đãi thuế để bảo đảm phù hợp với các luật mới ban hành sau Nghị định số 320/2025/NĐ-CP, Bộ Tài chính cho biết: Thời gian qua, quy định về ưu đãi thuế tại Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15, Luật An toàn thông tin mạng số 116/2025/QH15 và Luật Đầu tư số 143/2025/QH15.
Đồng thời, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 96/2026/NĐ-CP (thay thế Nghị định số 31/2021/NĐ-CP), trong đó quy định về địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn đã được điều chỉnh so với trước đây để phù hợp với việc sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Do đó, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung các nội dung tương ứng tại Nghị định số 320/2025/NĐ-CP để bảo đảm tính thống nhất với các văn bản pháp luật nêu trên (chi tiết tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6 Điều 2; khoản 3 Điều 3; Điều 4 và Điều 5 dự thảo Nghị định).
Những nội dung bổ sung so với quy định hiện hành
Để phù hợp với các nội dung bổ sung về ưu đãi thuế TNDN tại Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15, tại dự thảo Nghị định bổ sung:
Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược, Doanh nghiệp công nghệ chiến lược, Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 theo quy định của pháp luật về công nghệ cao, Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao vào diện áp dụng ưu đãi thuế, trong đó: Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ chiến lược, Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 theo quy định của pháp luật về công nghệ cao được áp dụng thuế suất 10% trong 25 năm, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 9 năm tiếp theo; doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao vào diện áp dụng ưu đãi thuế được áp dụng thuế suất 17% trong 10 năm, miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 4 năm tiếp theo. Nội dung chi tiết thể hiện tại khoản 4 Điều 2 dự thảo Nghị định.
Tổ chức, doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao, Giấy chứng nhận doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc Giấy chứng nhận hoạt động ứng dụng công nghệ cao hoặc Giấy chứng nhận cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao theo quy định của Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 được tiếp tục hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận, cho đến khi hết thời hạn ghi trên Giấy chứng nhận. Nội dung chi tiết thể hiện tại Điều 6 dự thảo Nghị định.
T.Dung
 

Xem thêm »