Nghị quyết về số giờ làm thêm trong 01 năm, 01 tháng của người lao động trong bối cảnh phòng chống dịch Covid-19 và phục hồi phát triển kinh tế - xã hội

Nhằm phục hồi phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh dịch Covid-19, ngày 23/3/2022, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 17/2022/UBTVQH15 về số giờ làm thêm trong 01 năm, 01 tháng của người lao động trong bối cảnh phòng chống dịch Covid-19 và phục hồi phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2022 (riêng quy định về áp dụng thời gian làm thêm trong năm có hiệu lực từ 01/01/2022)

Nghị quyết được ban hành tạo điều kiện cho cả người lao động và người sử dụng lao động phục hồi sản xuất, tăng thu nhập, đồng thời phục hồi sự phát triển chung của kinh tế - xã hội trong bối cảnh dịch Covid-19. Nghị quyết tạo cơ chế đặc thù so với quy định hiện hành của Bộ luật lao động năm 2019 về thời giờ làm thêm của người lao động trong 01 năm, 01 tháng.
 Cụ thể, ngoài quy định về các trường hợp người lao động được làm thêm giờ không quá 300 giờ/năm theo quy định tại khoản 3 Điều 107 Bộ luật lao động năm 2019, thì theo Nghị quyết số 17/2022/UBTVQH15 quy định các trường hợp được làm thêm giờ từ 200 giờ - 300 giờ/năm và từ 40 giờ - 60 giờ/tháng với các điều kiện cụ thể như sau:
1. Người sử dụng lao động có nhu cầu và được sự đồng ý của NLĐ thì được sử dụng NLĐ làm thêm trên 200 giờ nhưng không quá 300 giờ trong 01 năm, trừ các trường hợp sau đây

- NLĐ từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi; 

- NLĐ là người khuyết tật nhẹ suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên, khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng 

- NLĐ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; 

- Lao động nữ mang thai từ tháng thứ 7 hoặc từ tháng thứ 6 nếu làm việc vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; 

- Lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. 
Note: Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp tại khoản 3 Điều 17 Bộ luật lao động năm 2019, nghĩa là quy định trên là quy định đặc thù so với quy định tại Bộ luật lao động năm 2019.

2. Về việc áp dụng quy định người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ trong 01 tháng từ 40 giờ đến 60 giờ khi đáp ứng 2 điều kiện:

+ Một là người sử dụng lao động được sử dụng NLĐ làm thêm tối đa 300 giờ trong 01 năm có nhu cầu;
+ Hai là phải được sự đồng ý của người lao động.
Mặc dù đây là quy định đặc thù về giờ làm thêm giờ của người lao động trong 01 năm, 01 tháng trong bối cảnh ảnh hưởng của dịch Covid-19, tuy nhiên, ngoài các quy định tại Nghị quyết số 17/2022/UBTVH15 trên thì còn phải tuân thủ các quy định có liên quan của Bộ luật lao động năm 2019.
3. Về trình tự, thủ tục 
Khi tổ chức làm thêm giờ quy định nêu trên, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc UBND cấp tỉnh theo quy định tại khoản 4 Điều 107 Bộ luật Lao động.