Đề nghị hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng thực chất

Thảo luận về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, các đại biểu Quốc hội đánh giá cao những điểm mới của dự thảo, đồng thời đề nghị tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ theo hướng đúng đối tượng, sát nhu cầu, giảm chi phí tuân thủ và tạo động lực để doanh nghiệp phát triển.

Sáng 28/9, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách lần thứ Nhất thảo luận về nhóm dự án thuộc lĩnh vực kinh tế, tài chính.

Đối với dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhiều đại biểu ghi nhận những đổi mới trong cách tiếp cận của dự thảo, nhất là việc chuyển mạnh sang hỗ trợ dựa trên nhu cầu và kết quả, đa dạng hóa nguồn vốn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đồng thời tạo điều kiện để hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp.

Từ thực tiễn, các đại biểu cho rằng cơ chế hỗ trợ vẫn cần tiếp tục được rà soát, hoàn thiện để chính sách thực sự đến đúng đối tượng, dễ tiếp cận và phát huy hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ mặt bằng, tránh phát sinh thủ tục

Một trong những nội dung được các đại biểu quan tâm là chính sách hỗ trợ về mặt bằng sản xuất, kinh doanh.

Khoản 6 Điều 10 dự thảo Luật quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa được giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong 5 năm đầu; khoản hỗ trợ này được Nhà nước hoàn trả cho chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở ươm tạo.

ĐBQH Lê Thanh Hoàn (Thanh Hóa) cho rằng quy định này nhằm luật hóa nội dung tại Nghị định 230/2025 về các trường hợp khác được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo khoản 2 Điều 157 Luật Đất đai năm 2024.

Tuy nhiên, theo đại biểu, Điều 157 Luật Đất đai năm 2024 quy định cơ chế miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trực tiếp đối với người sử dụng đất được Nhà nước cho thuê đất. Trong khi đó, dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa lại thiết kế cơ chế Nhà nước hoàn trả bằng ngân sách cho doanh nghiệp tư nhân để bù đắp khoản doanh nghiệp này giảm giá cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê lại đất.

Đại biểu Lê Thanh Hoàn nhận định cách thiết kế trên có thể làm phát sinh quy trình chi ngân sách nhà nước phức tạp, đồng thời chưa tương thích với các quy định hiện hành về thu, nộp tiền thuê đất.

Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị thay cơ chế Nhà nước hoàn trả tiền cho chủ đầu tư hạ tầng bằng cơ chế khấu trừ nghĩa vụ. Cụ thể, khi chủ đầu tư hạ tầng thực hiện giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong 5 năm đầu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, khoản giảm này có thể được Nhà nước khấu trừ trực tiếp vào tiền thuê đất hằng năm mà chủ đầu tư phải nộp.

Đại biểu Lê Thanh Hoàn cũng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ quy định về việc dự kiến cấp voucher trực tiếp cho doanh nghiệp. Đây là giải pháp lần đầu được đưa vào dự thảo nhưng chưa xác định cụ thể hình thức thực hiện, cũng như việc voucher là giấy tờ có giá được phát hành chung hay phát hành riêng cho từng doanh nghiệp.

Liên quan đến chính sách hỗ trợ mặt bằng, ĐBQH Lã Thanh Tân (TP. Hải Phòng) cho rằng phương thức hỗ trợ gián tiếp có thể khiến doanh nghiệp gặp khó khăn khi tiếp cận chính sách. Vì vậy, cần nghiên cứu cơ chế Nhà nước hỗ trợ trực tiếp đúng đối tượng là doanh nghiệp, thay vì chủ yếu thực hiện thông qua chủ đầu tư hạ tầng.

Về tiêu chí 20ha hoặc 5% diện tích, đại biểu Lã Thanh Tân đề nghị đánh giá sát nhu cầu thực tế của từng địa phương. Việc này nhằm tránh tình trạng địa phương được phân bổ chỉ tiêu quỹ đất nhưng không có doanh nghiệp có nhu cầu thuê, dẫn đến lãng phí nguồn lực trong bối cảnh quỹ đất còn hạn chế.

Cùng nội dung này, ĐBQH Nguyễn Thị Sửu (TP. Huế) đánh giá chính sách hỗ trợ trực tiếp có khả năng tạo tác động thực tế, nhưng cần quy định rõ phương pháp xác định giá cho thuê để làm căn cứ tính mức giảm, nguồn ngân sách hoàn trả cho chủ đầu tư và cơ chế công khai quỹ đất, diện tích còn trống theo khoản 8 Điều 10.

Theo đại biểu, nếu không kiểm soát được giá thuê ban đầu, mức hỗ trợ 30% có thể chưa phản ánh chính xác lợi ích mà doanh nghiệp nhỏ và vừa thực tế nhận được.

Ưu đãi thuế cần gắn với thời điểm doanh nghiệp phát sinh nghĩa vụ

Chính sách ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng là nội dung được nhiều đại biểu tập trung góp ý.

ĐBQH Trần Văn Lâm (Bắc Ninh) đề nghị cân nhắc quy định tại khoản 2 Điều 9 về việc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ ngày doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Theo đại biểu, trong những năm đầu hoạt động, doanh nghiệp thường phải tập trung đầu tư nhà xưởng, mua sắm thiết bị, tuyển dụng lao động, tìm kiếm khách hàng và xây dựng thị trường. Vì vậy, doanh nghiệp có thể chưa phát sinh lợi nhuận, lợi nhuận ở mức thấp hoặc thậm chí bị thua lỗ.

Nếu thời gian miễn thuế được tính ngay từ ngày đăng ký doanh nghiệp, thời gian ưu đãi có thể đã hết một phần trong khi doanh nghiệp chưa phát sinh số thuế phải nộp.

Điều này, theo đại biểu Trần Văn Lâm, đặc biệt đáng lưu ý đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa mới khởi sự, mới đăng ký lần đầu. Do đó, đại biểu đề nghị tính thời gian miễn thuế từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế, tức thời điểm bắt đầu phát sinh thuế phải nộp, và áp dụng trong 3 năm.

Cách tiếp cận này được cho là sát hơn với quá trình hoạt động thực tế của doanh nghiệp, qua đó giúp chính sách ưu đãi phát huy hiệu quả rõ hơn.

Một nội dung khác được đại biểu Trần Văn Lâm lưu ý là khoản 3 Điều 9 dự thảo Luật cho phép doanh nghiệp có doanh thu năm không quá 10 tỷ đồng được lựa chọn tính thuế thu nhập doanh nghiệp trên thu nhập tính thuế hoặc theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu.

Theo đại biểu, quy định này có thể giúp giảm chi phí tuân thủ, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ được chuyển đổi từ hộ kinh doanh. Tuy nhiên, dự thảo hiện mới tập trung vào phương pháp tính thuế thu nhập mà chưa làm rõ sự đồng bộ với phương pháp tính thuế giá trị gia tăng và chế độ kế toán.

Trong trường hợp doanh nghiệp lựa chọn tính thuế thu nhập trực tiếp trên doanh thu nhưng vẫn phải thực hiện đầy đủ việc theo dõi thuế giá trị gia tăng đầu vào, đầu ra để khấu trừ hoặc đáp ứng các yêu cầu về kế toán, mức độ đơn giản hóa có thể chưa đạt như kỳ vọng.

Khi đó, khoảng cách về chi phí tuân thủ giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp chưa được thu hẹp rõ rệt, từ đó động lực chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang doanh nghiệp cũng chưa thực sự mạnh.

Đại biểu Trần Văn Lâm đề nghị rà soát đồng bộ ba nội dung gồm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng và chế độ kế toán đối với doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa.

Đồng thời, cần nghiên cứu, làm rõ quyền lựa chọn phương pháp trực tiếp theo tỷ lệ doanh thu để tính thuế giá trị gia tăng. Trường hợp pháp luật hiện hành đã cho phép thì cần thể hiện thống nhất trong quy định, bảo đảm thuận tiện cho doanh nghiệp thực hiện.

Đại biểu cũng lưu ý mỗi phương pháp tính thuế đều có những lợi ích và hạn chế nhất định. Với doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng, việc được khấu trừ có thể cần thiết để phù hợp với các giao dịch của khách hàng. Vì vậy, cần quy định quyền lựa chọn cùng các điều kiện rõ ràng, vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, vừa bảo đảm thống nhất với Luật Thuế giá trị gia tăng và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

Chuyển từ hỗ trợ theo công cụ sang hỗ trợ theo vòng đời doanh nghiệp

Đánh giá tổng thể dự thảo Luật, ĐBQH Lã Thanh Tân cho rằng việc hoàn thiện chính sách cần được tiếp cận theo hướng chuyển từ hỗ trợ sang phát triển; từ các chính sách phân tán sang một kiến trúc pháp luật thống nhất.

Theo đại biểu, chính sách cũng cần chuyển từ hỗ trợ theo từng công cụ sang hỗ trợ theo vòng đời của doanh nghiệp, từ hỗ trợ đầu vào sang quản lý dựa trên kết quả và đánh giá tác động.

Cùng với đó, cần thay đổi cách tiếp cận từ việc duy trì doanh nghiệp ở quy mô nhỏ sang tạo điều kiện để doanh nghiệp trưởng thành, mở rộng quy mô và vượt qua ngưỡng doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Những ý kiến tại phiên thảo luận cho thấy yêu cầu đặt ra đối với dự án Luật không chỉ là mở rộng các chính sách hỗ trợ mà quan trọng hơn là thiết kế cơ chế đủ rõ, dễ tiếp cận và phù hợp với thực tế vận hành của doanh nghiệp.

Việc rà soát cách thức hỗ trợ mặt bằng, thời điểm hưởng ưu đãi thuế, phương pháp tính thuế và chế độ kế toán sẽ có ý nghĩa trực tiếp đối với chi phí tuân thủ của doanh nghiệp. Khi các chính sách được thiết kế sát hơn với nhu cầu và khả năng thực hiện, nguồn lực hỗ trợ có thể được sử dụng hiệu quả hơn, đồng thời tạo thêm động lực để doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư, mở rộng hoạt động và từng bước phát triển lên quy mô cao hơn.

N.Hà