Dự kiến kéo dài chương trình ưu đãi thuế suất 0% đối với ô tô đến hết năm 2032

Bộ Tài chính đã hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2023/NĐ-CP về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, để chuyển Bộ Tư pháp thẩm định. Một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo là kéo dài thời gian thực hiện Chương trình ưu đãi thuế đối với sản xuất, lắp ráp ô tô đến hết năm 2032, đồng thời bổ sung các quy định nhằm tháo gỡ khó khăn về dòng tiền và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.

Tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế đối với ngành công nghiệp ô tô

Theo Bộ Tài chính, Chương trình ưu đãi thuế để sản xuất, lắp ráp ô tô được triển khai từ năm 2018 đến hết năm 2027, với mức thuế suất 0%.

Qua tổng kết quá trình thực hiện, Bộ Công Thương cùng các hiệp hội và doanh nghiệp đánh giá cao hiệu quả của chương trình. Theo Bộ Công Thương, cả nước hiện có hơn 40 doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô, trong đó 16 doanh nghiệp có quy mô lớn, đủ năng lực sản xuất, kinh doanh tham gia chương trình.

Kết quả sản xuất của ngành công nghiệp ô tô trong nước ghi nhận những chuyển biến tích cực. Năm 2025, sản lượng ô tô sản xuất, lắp ráp đạt hơn 480.000 xe, tăng 30,4% so với năm 2024 và vượt mục tiêu đề ra tại Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô.

Trong nửa đầu năm 2026, sản lượng xe mới xuất xưởng ước đạt 284.600 chiếc, tăng 26,9% so với cùng kỳ năm 2025. Nhiều doanh nghiệp trong nước đã mở rộng quy mô sản xuất, đồng thời xuất khẩu một số dòng xe ra thị trường nước ngoài.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước vẫn tồn tại một số hạn chế, đòi hỏi cần tiếp tục có các chính sách hỗ trợ đồng bộ của Nhà nước. Trong đó, tỷ lệ nội địa hóa đối với dòng xe dưới 9 chỗ còn thấp; hệ sinh thái sản xuất linh kiện, phụ tùng quy mô lớn chưa được hình thành; các chính sách ưu đãi đặc thù nhằm thúc đẩy xuất khẩu vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển của ngành.

Đặc biệt, xu hướng chuyển dịch toàn cầu sang các phương tiện giao thông xanh đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô. Để đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế, doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt của nước nhập khẩu, đồng thời nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh.

Trước tình hình đó, Bộ Tài chính cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ, trong đó có giải pháp giảm thời gian vốn bị tồn đọng, trên cơ sở cam kết xuất khẩu sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp.

Trên cơ sở ý kiến của các bộ, ngành, hiệp hội và doanh nghiệp, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung Chương trình ưu đãi thuế ô tô tại Điều 8 của dự thảo Nghị định, tập trung vào 7 nhóm nội dung chính.

Đáng chú ý, dự thảo đề xuất kéo dài thời gian thực hiện chương trình thêm 5 năm, đến hết năm 2032. Theo Bộ Tài chính, việc gia hạn nhằm bảo đảm tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách, giúp doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh trong trung và dài hạn.

Đối với trường hợp doanh nghiệp nộp thuế nhập khẩu theo mức thuế suất thông thường do chưa áp dụng mức thuế suất 0% tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan, cơ quan hải quan sẽ thực hiện hoàn số thuế nhập khẩu đã nộp theo quy định. Bộ Tài chính ước tính số thuế nhập khẩu dự kiến phải hoàn bình quân khoảng 8.000 tỷ đồng mỗi năm.

Mở rộng ưu đãi đối với linh kiện phục vụ sản xuất, lắp ráp ô tô xuất khẩu

Bên cạnh đề xuất gia hạn thời gian thực hiện chương trình, dự thảo Nghị định còn bổ sung các quy định nhằm tháo gỡ vướng mắc về dòng tiền, giảm áp lực tài chính cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, lắp ráp ô tô.

Theo đó, chính sách thuế suất 0% dự kiến được mở rộng áp dụng ngay tại thời điểm nhập khẩu đối với linh kiện sử dụng để sản xuất, lắp ráp ô tô xuất khẩu trong thời hạn 1 năm kể từ ngày mở tờ khai nhập khẩu, cùng các điều kiện khác theo quy định. Cơ quan hải quan sẽ thực hiện kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm nếu doanh nghiệp không đáp ứng các điều kiện sau thông quan.

Quy định này được kỳ vọng giúp doanh nghiệp giảm áp lực về vốn trong quá trình nhập khẩu linh kiện, phục vụ sản xuất, lắp ráp xe xuất khẩu. Qua đó, doanh nghiệp có điều kiện tối ưu hóa chi phí đầu vào và nâng cao năng lực cạnh tranh khi đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế.

Ngoài nội dung trên, dự thảo Nghị định còn đề xuất sửa đổi quy định về tiêu chuẩn khí thải EURO trong điều kiện xét ưu đãi; điều chỉnh kỳ xét ưu đãi; sửa đổi quy định về sản lượng ô tô sản xuất, lắp ráp để áp dụng ưu đãi; sửa đổi quy định đối với ô tô thân thiện với môi trường; đồng thời cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Đối với trường hợp hết thời hạn 1 năm nhưng ô tô chưa được xuất khẩu thực tế ra nước ngoài, doanh nghiệp phải kê khai và nộp đủ số tiền thuế cùng tiền chậm nộp trong thời hạn 5 ngày làm việc.

Nếu hết thời hạn này mà doanh nghiệp không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ số tiền thuế phải nộp, cơ quan hải quan sẽ thực hiện ấn định thuế và tính tiền chậm nộp trong thời hạn 5 ngày làm việc tiếp theo.

Các quy định về thời hạn kê khai, nộp thuế và xử lý trường hợp không đáp ứng điều kiện ưu đãi nhằm xác định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp, đồng thời tạo cơ sở để cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra, giám sát việc sử dụng linh kiện nhập khẩu đúng mục đích.

Điều chỉnh sản lượng để hưởng ưu đãi theo lộ trình đến năm 2032

Một nội dung khác được đề xuất sửa đổi là tăng mức sản lượng chung và sản lượng riêng tối thiểu để doanh nghiệp được hưởng thuế suất ưu đãi 0%. Việc điều chỉnh được thiết kế theo lộ trình gồm 3 giai đoạn.

Cụ thể, trong năm 2027, mức sản lượng tiếp tục được giữ nguyên như quy định hiện hành tại Nghị định số 26/2023/NĐ-CP. Đối với giai đoạn 2028–2029 và giai đoạn 2030–2032, mức sản lượng sẽ được điều chỉnh theo lộ trình dự kiến.

Theo định hướng của dự thảo, việc xây dựng lộ trình nhằm duy trì tính ổn định của chính sách, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động kế hoạch đầu tư, sản xuất, kinh doanh, đồng thời từng bước nâng mức yêu cầu theo quy mô thị trường và mục tiêu phát triển ngành công nghiệp ô tô.

Việc phân chia thành các giai đoạn cũng thể hiện định hướng kết hợp giữa yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp và mục tiêu phát triển ngành trong dài hạn. Theo đó, chính sách ưu đãi cần có tính ổn định để doanh nghiệp xây dựng kế hoạch đầu tư, nhưng đồng thời phải có lộ trình điều chỉnh phù hợp với sự phát triển của thị trường.

Giữ phạm vi doanh nghiệp tham gia chương trình theo dự thảo

Liên quan đến phạm vi đối tượng tham gia chương trình ưu đãi thuế, Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) và các công ty thành viên đề nghị cho phép các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu, vật tư là nhà cung cấp cấp 2 tham gia chương trình, nếu chứng minh được hàng hóa cuối cùng được cung cấp phục vụ sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước.

Tuy nhiên, Bộ Tài chính cho biết các doanh nghiệp tham gia chương trình hiện nay đều là doanh nghiệp cấp 1 (F1), có năng lực sản xuất và hệ thống quản lý hàng hóa minh bạch, rõ ràng. Nhờ đó, cơ quan hải quan có thể truy xuất nguồn gốc, kiểm tra và giám sát việc sử dụng hàng hóa đúng mục đích.

Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đề nghị giữ nguyên quy định như trong dự thảo Nghị định, không bổ sung các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cấp 2, cấp 3 vào nhóm đối tượng áp dụng chương trình ưu đãi.

Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2023/NĐ-CP đang được hoàn thiện để chuyển Bộ Tư pháp thẩm định. Các đề xuất về gia hạn thời gian ưu đãi, mở rộng phạm vi áp dụng thuế suất 0% đối với linh kiện phục vụ sản xuất, lắp ráp ô tô xuất khẩu, điều chỉnh điều kiện sản lượng và đơn giản hóa thủ tục hành chính là những nội dung trọng tâm nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách thuế đối với ngành công nghiệp ô tô trong thời gian tới.

T.Nga