Theo Nghị quyết số 204/2025/QH15 ngày 17/6/2025 của Quốc hội và Nghị định số 174/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ được nêu trong tài liệu, chính sách giảm thuế giá trị gia tăng tiếp tục áp dụng từ ngày 1/7/2025 đến hết ngày 31/12/2026.
Theo nội dung được trích dẫn, hàng hóa, dịch vụ đang chịu thuế suất 10% được giảm xuống 8% nếu thuộc phạm vi được giảm. Đối với cơ sở tính thuế theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, mức tỷ lệ được giảm 20% đối với doanh thu của hàng hóa, dịch vụ đủ điều kiện.
Điểm cần lưu ý là chính sách không áp dụng đồng loạt cho tất cả hàng hóa, dịch vụ. Trước khi điều chỉnh thuế suất trên phần mềm bán hàng hoặc hóa đơn, cơ sở kinh doanh cần xác định chính xác nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện được giảm và kiểm tra các trường hợp bị loại trừ.
Ví dụ, một cửa hàng kinh doanh nhiều nhóm hàng không nên cài đặt đồng loạt mọi mặt hàng về mức thuế suất 8%. Hàng hóa không chịu thuế hoặc đang chịu thuế suất 5% không thể tự động chuyển sang mức 8% chỉ vì đang có chính sách giảm thuế đối với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ.
Để hạn chế sai sót, doanh nghiệp nên phân công người phụ trách cập nhật danh mục hàng hóa trên phần mềm, lưu lại căn cứ phân loại và kiểm tra khi bổ sung sản phẩm mới. Việc rà soát cũng cần được thực hiện khi chính sách thay đổi hoặc khi cơ sở kinh doanh mở rộng danh mục hàng hóa, dịch vụ.
Phân loại đúng ngay từ đầu sẽ giúp hạn chế tình trạng áp dụng sai thuế suất trên diện rộng, tránh phải điều chỉnh nhiều hóa đơn và hồ sơ. Đây là công việc cần sự phối hợp giữa bộ phận bán hàng, kế toán và người quản lý, nhất là tại các cơ sở có nhiều sản phẩm với chính sách thuế khác nhau.
Theo Điều 10 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 ngày 14/6/2025 của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 1/10/2025, doanh nghiệp quy mô nhỏ có thể thuộc nhóm áp dụng thuế suất thấp hơn mức phổ thông.
Theo nội dung tài liệu, mức thuế suất 15% áp dụng đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 3 tỷ đồng; mức 17% áp dụng đối với doanh nghiệp có doanh thu trên 3 tỷ đồng đến không quá 50 tỷ đồng. Việc xác định doanh thu và áp dụng thuế suất phải đáp ứng các điều kiện, trường hợp loại trừ theo quy định pháp luật.
Bên cạnh thuế suất, Điều 2 Nghị định số 141/2026/NĐ-CP ngày 29/4/2026 được viện dẫn trong tài liệu bổ sung chính sách miễn thuế đối với doanh nghiệp có doanh thu thấp. Theo nội dung được nêu, doanh nghiệp, tổ chức thành lập theo pháp luật Việt Nam có tổng doanh thu năm không quá 1 tỷ đồng thuộc diện miễn thuế khi đáp ứng điều kiện. Doanh thu xét miễn thông thường căn cứ kỳ trước liền kề, bao gồm doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ, doanh thu tài chính và thu nhập khác; đồng thời có quy định riêng đối với kỳ tính thuế dưới 12 tháng, doanh nghiệp mới thành lập và trường hợp có quan hệ liên kết.
Ngoài ra, Điều 7 Nghị định số 20/2026/NĐ-CP ngày 15/1/2026 của Chính phủ hướng dẫn ưu đãi đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu. Theo tài liệu, nhóm doanh nghiệp này được xem xét miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong ba năm nếu đáp ứng điều kiện áp dụng; thời gian miễn, trường hợp loại trừ và quy định chuyển tiếp phải được xác định theo quy định cụ thể.
Các chính sách trên cho thấy doanh nghiệp cần phân biệt rõ giữa thuế suất ưu đãi, miễn thuế và ưu đãi theo điều kiện riêng. Mỗi chính sách có căn cứ xác định đối tượng, doanh thu, thời gian áp dụng và trường hợp loại trừ khác nhau. Không nên mặc nhiên cho rằng doanh nghiệp có doanh thu thấp hoặc mới thành lập sẽ được miễn toàn bộ nghĩa vụ thuế.
Ví dụ, khi hộ kinh doanh chuyển đổi thành công ty, chủ cơ sở không nên kết luận rằng chỉ cần thành lập doanh nghiệp là được miễn mọi loại thuế trong ba năm. Cần xác định điều kiện hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thời điểm bắt đầu áp dụng và các trường hợp loại trừ. Đồng thời, doanh nghiệp vẫn phải quản lý hóa đơn, thực hiện các nghĩa vụ thuế khác và tuân thủ quy định liên quan đến người lao động.
Việc rà soát chính sách trước khi lập kế hoạch tài chính giúp doanh nghiệp tính toán đúng nghĩa vụ, tránh đưa khoản ưu đãi chưa đủ điều kiện vào dự kiến dòng tiền. Trường hợp chưa rõ điều kiện áp dụng, doanh nghiệp nên kiểm tra văn bản hướng dẫn và trao đổi với cơ quan thuế hoặc đơn vị tư vấn có chuyên môn.
Theo Điều 1 và Điều 2 Nghị quyết số 43/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội được nêu trong tài liệu, trong kỳ tính thuế năm 2026 và 2027, cá nhân cư trú có doanh thu kinh doanh năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% thuế thu nhập cá nhân từ kinh doanh. Doanh nghiệp, tổ chức Việt Nam có doanh thu năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp, có loại trừ trường hợp chia, tách theo quy định. Đối với doanh nghiệp đang hưởng ưu đãi, khoản giảm được tính trên số thuế còn phải nộp sau ưu đãi.
Điểm cần lưu ý là mức giảm 30% được tính trên số thuế thuộc diện được giảm, không phải tính trực tiếp trên doanh thu. Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện và số thuế thu nhập doanh nghiệp còn phải nộp sau khi áp dụng ưu đãi là 100 triệu đồng thì khoản giảm 30% tương ứng là 30 triệu đồng, số thuế còn phải nộp sau giảm là 70 triệu đồng.
Doanh nghiệp cũng cần phân biệt thời điểm văn bản có hiệu lực với kỳ tính thuế được áp dụng. Theo nội dung tài liệu, Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 24/8/2026 nhưng chính sách áp dụng theo kỳ tính thuế năm 2026 và 2027, không chỉ giới hạn ở phần thu nhập phát sinh sau ngày Nghị quyết có hiệu lực.
Vì vậy, khi xác định số thuế được giảm, doanh nghiệp cần rà soát doanh thu của kỳ tính thuế, điều kiện áp dụng, số thuế trước và sau ưu đãi cùng các trường hợp loại trừ. Việc tính toán cần căn cứ đúng quy định hướng dẫn, tránh lấy tỷ lệ giảm thuế nhân trực tiếp với doanh thu hoặc áp dụng trùng các chính sách ưu đãi không được phép cộng gộp.
Theo điểm b, điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 của Chính phủ, doanh nghiệp cần kiểm tra đồng thời giao dịch thực tế, chứng từ liên quan và phương thức thanh toán khi xác định điều kiện đối với chi phí được trừ.
Đối với một số trường hợp mua trực tiếp nông, lâm, thủy sản của người sản xuất, người đánh bắt và các trường hợp được liệt kê trong quy định, doanh nghiệp có thể sử dụng bảng kê thu mua kèm chứng từ chi trả. Khi giá trị mua trong ngày của từng hộ, cá nhân từ 5 triệu đồng trở lên, giao dịch phải đáp ứng yêu cầu thanh toán không dùng tiền mặt theo nội dung được nêu.
Ví dụ, doanh nghiệp mua nông sản trực tiếp của người dân không có hóa đơn cần xác định đúng người bán, hàng hóa, số lượng, giá trị, việc giao nhận và thanh toán để lập hồ sơ. Tuy nhiên, nếu giao dịch được thực hiện qua thương nhân thuộc diện phải lập hóa đơn thì doanh nghiệp không thể chỉ vì bên bán không giao hóa đơn mà tự chuyển sang sử dụng bảng kê thu mua.
Đối với giống cây trồng và các sản phẩm nông nghiệp khác, cần xác định nguồn cung, tư cách người bán và tính chất giao dịch. Không thể suy luận rằng tất cả giao dịch liên quan đến nông nghiệp đều được phép lập bảng kê thay cho hóa đơn.
Ngoài các trường hợp đặc thù, tài liệu cũng nêu yêu cầu khoản chi mua hàng hóa, dịch vụ và khoản thanh toán khác từng lần từ 5 triệu đồng trở lên phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để đáp ứng điều kiện chi phí được trừ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Những yêu cầu này cho thấy công tác quản lý chứng từ cần bắt đầu ngay tại thời điểm mua hàng, thay vì chờ đến khi lập hồ sơ thuế mới tập hợp lại. Doanh nghiệp nên xây dựng quy trình tiếp nhận chứng từ, xác nhận giao nhận hàng hóa và kiểm tra phương thức thanh toán; đồng thời lưu trữ hồ sơ theo từng giao dịch để thuận tiện đối chiếu.
Nếu chứng từ không đầy đủ hoặc phương thức thanh toán không đáp ứng điều kiện, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn khi chứng minh tính hợp lệ của khoản chi. Vì vậy, kiểm soát hồ sơ đầu vào là một phần quan trọng trong quản trị tài chính và tuân thủ pháp luật thuế.
Theo Nghị định số 245/2026/NĐ-CP ngày 27/6/2026 của Chính phủ về gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2026, các đối tượng đáp ứng điều kiện được gia hạn những khoản thuộc phạm vi quy định.
Tài liệu nêu thời hạn gia hạn đối với thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quý II/2026 đến ngày 2/11/2026, quý III/2026 đến ngày 30/12/2026; khoản tiền thuê đất đủ điều kiện của kỳ thứ nhất năm 2026 được gia hạn đến ngày 2/11/2026. Văn bản đề nghị gia hạn được gửi một lần cho các kỳ được gia hạn, chậm nhất ngày 2/11/2026; hồ sơ gửi sau thời hạn này không được hưởng gia hạn theo nội dung được cung cấp.
Gia hạn thời hạn nộp thuế là biện pháp hỗ trợ dòng tiền, giúp doanh nghiệp có thêm thời gian cân đối nguồn lực trong quá trình hoạt động. Tuy nhiên, gia hạn không làm giảm số thuế phải nộp và không mặc nhiên kéo dài mọi thời hạn kê khai thuế. Doanh nghiệp cần xác định đúng đối tượng, khoản thuế, kỳ được gia hạn và thủ tục phải thực hiện.
Một rủi ro thường gặp là doanh nghiệp coi thời gian gia hạn như khoản tiền được miễn hoặc không đưa nghĩa vụ thuế vào kế hoạch tài chính. Trên thực tế, khoản thuế được gia hạn vẫn cần được bố trí nguồn thanh toán khi hết thời hạn. Nếu không chuẩn bị từ sớm, doanh nghiệp có thể gặp áp lực dòng tiền vào thời điểm nhiều khoản chi phí cùng đến hạn.
Tại thời điểm ngày 30/9/2026 được nêu trong tài liệu, doanh nghiệp đủ điều kiện nên rà soát hồ sơ và thực hiện thủ tục gia hạn trong thời hạn quy định. Đồng thời, cần đưa các khoản thuế, tiền thuê đất sắp đến hạn vào kế hoạch dòng tiền cuối năm để chủ động chuẩn bị nguồn thanh toán.
Theo Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội và Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ được viện dẫn trong tài liệu, mức giảm trừ đối với bản thân người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng và mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng. Luật có hiệu lực chung từ ngày 1/7/2026, nhưng quy định về thu nhập kinh doanh, tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được nêu là áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
Doanh nghiệp không nên chỉ cập nhật phần mềm tính lương từ tháng 7/2026 mà bỏ qua việc đối chiếu dữ liệu từ đầu năm. Khi chính sách được áp dụng theo kỳ tính thuế năm, bộ phận nhân sự và kế toán cần kiểm tra cách tính, số thuế đã khấu trừ, thông tin người phụ thuộc và hồ sơ liên quan để xử lý theo quy định.
Ví dụ, nếu phần mềm tính thuế vẫn sử dụng mức giảm trừ cũ, doanh nghiệp cần rà soát cấu hình, kiểm tra số liệu đã khấu trừ trong năm và xác định cách xử lý khi kê khai, quyết toán. Việc cập nhật phần mềm cần đi kèm kiểm tra dữ liệu đầu vào, bởi mức giảm trừ chỉ được áp dụng đúng khi thông tin về thu nhập, thời gian làm việc và người phụ thuộc được ghi nhận chính xác.
Bộ phận nhân sự và kế toán cần phối hợp chặt chẽ vì dữ liệu về hợp đồng lao động, thu nhập, bảo hiểm và người phụ thuộc có thể được quản lý ở các bộ phận khác nhau. Nếu không có cơ chế đối chiếu thống nhất, doanh nghiệp có thể bỏ sót thông tin hoặc sử dụng dữ liệu chưa cập nhật khi tính thuế.
Rà soát cả kỳ tính thuế giúp doanh nghiệp chủ động phát hiện sai lệch, hoàn thiện hồ sơ và hạn chế việc phải điều chỉnh nhiều lần vào thời điểm quyết toán. Đây cũng là minh chứng cho vai trò của quản trị dữ liệu trong việc thực hiện đúng các chính sách thuế có thời điểm áp dụng đặc thù.
Các chính sách thuế trong năm 2026 đặt ra yêu cầu doanh nghiệp không chỉ cập nhật mức thuế hoặc thời hạn nộp mà còn phải hiểu đúng điều kiện áp dụng, hồ sơ chứng minh và cách xác định số thuế phải nộp. Từ việc phân loại hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng, xác định điều kiện ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đến kiểm soát chứng từ đầu vào và quản lý thuế thu nhập cá nhân, mỗi khâu đều cần dữ liệu chính xác và sự phối hợp giữa các bộ phận.
Doanh nghiệp nên xây dựng lịch theo dõi các mốc thời gian quan trọng, phân công người phụ trách cập nhật văn bản và định kỳ kiểm tra hồ sơ. Các khoản thuế dự kiến phải nộp, khoản được gia hạn và khoản có thể được giảm cần được theo dõi riêng để tránh nhầm lẫn khi lập kế hoạch dòng tiền.
Bên cạnh đó, việc tận dụng chính sách hỗ trợ cần dựa trên điều kiện pháp luật cụ thể, không nên chỉ căn cứ vào thông tin tóm tắt hoặc cách hiểu chưa được kiểm chứng. Khi gặp trường hợp chưa rõ, doanh nghiệp cần đối chiếu văn bản chính thức, hướng dẫn thi hành và trao đổi với cơ quan thuế hoặc đơn vị tư vấn có chuyên môn.
Chủ động quản lý chứng từ, dữ liệu và thời hạn thực hiện nghĩa vụ thuế vừa giúp doanh nghiệp giảm nguy cơ sai sót, vừa tạo nền tảng cho hoạt động quản trị minh bạch. Khi các bộ phận phối hợp tốt và hồ sơ được chuẩn bị ngay từ đầu, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong việc thực hiện đúng quy định, tận dụng chính sách phù hợp và duy trì hoạt động kinh doanh ổn định.
H.Nhung