5 nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn:

Bộ Tài chính ban hành văn bản hợp nhất số 27/2026/VBHN-NĐ-BTC, ngày 27/8/2026 Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Trong đó quy định rõ nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.

Cụ thể, tại Điều 5, văn bản hợp nhất số 27/2026/VBHN-NĐ-BTC quy định nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn như sau:
1. Việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
2. Tổ chức, cá nhân chỉ bị xử phạt vì phạm hành chính về thuế, hóa đơn khi có hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn theo quy định tại Nghị định này.
3. Tổ chức, cá nhân thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ các trường hợp sau: 
a) Trường hợp cùng một ngày người nộp thuế khai sai một hoặc nhiều chỉ tiêu trên các hồ sơ thuế thì hành vi khai sai thuộc trường hợp xử phạt về thủ tục thuế chỉ bị xử phạt về một hành vi khai sai chỉ tiêu trên hồ sơ thuế có khung phạt tiền cao nhất trong số các hành vi đã thực hiện theo quy định tại Nghị định này;
b) Trường hợp cùng một ngày người nộp thuế chậm nộp nhiều hồ sơ khai thuế của cùng một sắc thuế thì chỉ bị xử phạt về một hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế có khung phạt tiền cao nhất trong số các hành vi đã thực hiện theo quy định tại Nghị định này.
Trường hợp trong số hồ sơ khai thuế chậm nộp có hồ sơ khai thuế chậm nộp thuộc trường hợp trốn thuế thì tách riêng để xử phạt về hành vi trốn thuế;
c) Trường hợp cùng một ngày người nộp thuế chậm nộp nhiều thông báo, báo cáo cùng loại về hóa đơn thì người nộp thuế bị xử phạt về một hành vi chậm nộp thông báo, báo cáo về hóa đơn có khung phạt tiền cao nhất trong số các hành vi đã thực hiện quy định tại Nghị định này.
d) Hành vi vi phạm về cung cấp thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về thuế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc là bên ký kết thuộc trường hợp bị xử phạt theo Điều 19a thì không bị xử phạt theo Điều 14, Điều 15, Điều 19 Nghị định này.
đ) Trường hợp người nộp thuế thực hiện nhiều hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm, các hành vị vi phạm còn trong thời hiệu xử phạt và bị xử phạt trong một vụ việc vi phạm hành chính thì chỉ bị xử phạt về một hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm có khung tiền phạt tương ứng với số lượng hóa đơn đã lập không đúng thời điểm theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Nghị định này;
e) Trường hợp người nộp thuế thực hiện nhiều hành vi không lập hóa đơn, các hành vi vì phạm còn trong thời hiệu xử phạt và bị xử phạt trong một vụ việc vi phạm hành chính thì chỉ bị xử phạt về một hành vi không lập hóa đơn có khung tiền phạt tương ứng với số lượng hóa đơn đã lập không đúng thời điểm theo quy định tại khoản 3 Điều 24 Nghị định này;
g) Trường hợp người nộp thuế khai sai nhiều chỉ tiêu trên một hổ sơ thuế thuộc trường hợp bị xử phạt về thủ tục thuế thì chỉ bị xử phạt về một hành vi khai sai chỉ tiêu trên hồ sơ thuế có khung tiền phạt cao nhất trong số các hành vì đã thực hiện theo quy định tại Nghị định này.
Trường hợp người nộp thuế khai sai nhiều chỉ tiêu trên một hồ sơ thuế vừa thuộc trường hợp bị xử phạt về thủ tục thuế, vừa thuộc trường hợp bị xử phạt theo Điều 16 hoặc Điều 17 Nghị định này thì chỉ bị xử phạt về một hành vi theo Điều 16 hoặc Điều 17 Nghị định này.
4. Trường hợp trong một thủ tục hành chính có nhiều thành phần hồ sơ được quy định nhiều hơn một hành vi vi phạm hành chính tại Nghị định này thì tổ chức, cá nhân vi phạm bị xử phạt đối với từng hành vi vi phạm.
5. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân, trừ mức phạt tiền đối với hành vi quy định tại Điều 16, Điều 17 và Điều 18 Nghị định này.
 Những nguyên tắc trên cho thấy việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn không chỉ căn cứ vào việc có phát sinh vi phạm mà còn phải xác định đúng hành vi, số lượng hành vi và trường hợp áp dụng theo quy định. Đặc biệt, đối với trường hợp người nộp thuế thực hiện nhiều hành vi vi phạm trong cùng thời điểm hoặc trong cùng một vụ việc, pháp luật đã quy định cụ thể cách xác định hành vi bị xử phạt nhằm bảo đảm việc xử lý có căn cứ, thống nhất và phù hợp với tính chất của từng hành vi. Quy định này cũng đặt ra yêu cầu người nộp thuế cần chủ động rà soát hồ sơ khai thuế, hóa đơn và các nghĩa vụ liên quan để hạn chế sai sót. Những lỗi như khai sai chỉ tiêu, chậm nộp hồ sơ khai thuế, chậm gửi thông báo, báo cáo về hóa đơn hoặc lập hóa đơn không đúng thời điểm đều có thể dẫn đến việc bị xử phạt nếu thuộc trường hợp vi phạm theo quy định. Do đó, việc nắm rõ các nguyên tắc xử phạt không chỉ giúp người nộp thuế hiểu rõ trách nhiệm của mình mà còn góp phần chủ động phòng ngừa vi phạm, giảm thiểu rủi ro pháp lý và các chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế. Bên cạnh đó, doanh nghiệp, tổ chức cần đặc biệt chú trọng công tác kiểm soát nội bộ đối với việc kê khai thuế, quản lý và sử dụng hóa đơn; phân công rõ trách nhiệm, kiểm tra hồ sơ trước khi gửi cơ quan thuế và theo dõi đầy đủ thời hạn thực hiện các thủ tục thuế để hạn chế nguy cơ phát sinh vi phạm. Đối với cá nhân, hộ kinh doanh và các chủ thể trực tiếp thực hiện nghĩa vụ thuế, việc thường xuyên cập nhật quy định mới, kiểm tra thông tin đăng ký thuế, thời hạn khai và nộp hồ sơ, tình trạng hóa đơn cũng như các thông báo của cơ quan thuế sẽ giúp kịp thời phát hiện, khắc phục sai sót, qua đó nâng cao tính chủ động và hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.
D.Mạnh